Thật vậy, hạc đã làm bạn với ngời từ bao ngàn năm trớc. Hình ảnh chim hạc đã đi vào văn chơng, mỹ thuật, lịch sử, triết lý của nhiều dân tộc.
Người Trung Hoa xưa tin rằng hạc sống rất lâu, mà đơn vị đo tuổi là ngàn năm. Chim hạc 2000 tuổi thì lông trổ màu xanh, nếu thêm 1000 năm nữa thì lông trổ màu đen.
Chim hạc
Năm 1923 Viện Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên (Pháp) ấn hành quyển Đời sống của Động Vật ghi rằng số lợng loài chim hiện hữu trên trái đất có khoảng 18.000 loại. Năm 1966, Tự Điển Màu Larousse đa ra con số xấp xỉ 20.000 loại. Năm 1951, các nhà điểu học Mỹ - Úc, nhờ những dụng cụ nhiếp ảnh với con mắt điện tử khiến cho chim tự động chụp ảnh mình, cho rằng số lợng loài chim hiện sống trên trái đất là 8.590 loại. Con số 8.590 loại chim hiện nay đợc hầu hết các nhà điểu học chấp nhận.
Sự sai biệt lớn lao về số lượng loài chim được giải thích nhờ những phát kiến mới của ngành điểu học.
1. So với muôn loài động vật khác, sự tiến hóa của chim cực kỳ nhanh. Một số loài chim sau thời gian di trú, định c,ư trở về chốn cũ, đã được thay hình đổi dạng khiến cho ngời quan sát phải lầm rồi xác định đó là những loài chim mới khác !
2. Do sự kiện tiến hóa đồng qui ở chim, một số loài chim khác biệt, sau khi trở về chốn cũ lại giống hệt nhau, khiến ngời quan sát chỉ xem chúng nh là cùng một loài.
Trong việc phân loại chim, các nhà điểu học trước đây đã căn cứ vào ngoại hình của chim (mỏ, chân...) và nội tạng nếu cần, để làm tiêu chuẩn.
Nhng, với sự tiến hóa rất nhanh ở chim, ngoại hình dễ thay đổi nhất, trái lại tập quán thì đã ăn sâu vào hệ thần kinh của chim, lu truyền vạn đại.
Vì vậy ngành điểu học nay khi phân loại chim, không bàn đến mỏ và chân... như xưa mà chỉ dùng tập quán của chim làm tiêu chuẩn.
Ngày nay, điểu học phân phối chim vào những dạng (tuy rằng vẫn dùng Họ nếu không có mâu thuẫn). Khi mô tả chim, điểu học ngày nay bắt đầu từ những dạng chim tiến hóa chậm nhất để lên đến các dạng chim tiến hóa cao nhất.
Trong quá trình tiến hóa, có một số loài chim đã bị tuyệt diệt, lại cũng có một số loài được "phát hiện"... v.v.
Chim hạc có tất cả 14 loài được biết hiện nay. Trừ châu Đại Dương, và Nam Mỹ, khắp thế giới đều biết con chim hạc uy nghi này.
Theo Bắc Sử (sử Trung Quốc), Vệ Linh Công thời Chiến Quốc đã nuôi một đàn hạc cả mấy trăm con. Đời Đường, nhà thơ Thôi Hiệu đã trở thành bất hủ với bài thơ Hoàng Hạc Lâu. Chính thi tiên Lý Bạch cũng phải bái phục Thôi Hiệu khi họ Lý đến viếng Lầu Hạc Vàng này mà không dám đề thơ vì đã có thơ của Thôi Hiệu:
Đời Tống, thi gia Lâm Hòa Tỉnh đã từng xem hoa mai nh vợ, chim hạc như con
Nguyễn Du cũng có câu:
"Nghêu ngao vui thú yên hà,
Mai là bạn cũ, hạc là ngời quen".
Thật vậy, hạc đã làm bạn với ngời từ bao ngàn năm trớc. Hình ảnh chim hạc đã đi vào văn chơng, mỹ thuật, lịch sử, triết lý của nhiều dân tộc.
Ngời Trung Hoa xa tin rằng hạc sống rất lâu, mà đơn vị đo tuổi là ngàn năm. Chim hạc 2000 tuổi thì lông trổ màu xanh, nếu thêm 1000 năm nữa thì lông trổ màu đen.
Đời ngời ngắn ngủi trong khoảng trăm năm, mà nói đến tuổi hạc hàng mấy ngàn năm, e rằng có chỗ huyễn hoặc chăng? Ngời đời sau vì tôn trọng lời của cổ nhân nên phải đặt việc nói trên vào hàng "bất khả thi", chờ xem.
Sau khi soát lại 14 loài hạc hiện hữu trên trái đất, ta thấy không có chim hạc nào có bộ lông màu vàng cả! Thế sao Lý Bạch, Thôi Hiệu lại mô tả hạc vàng? Có phải rằng vào đời nhà Đường loài hạc vàng cha bị triệt diệt? Thôi thì đành một lần "bất khả thi nghị" nữa. Mười bốn loài hạc được liệt kê ra như sau:
Hạc Trắng Mỹ Châu (có học danh là Grus americana) đẹp nhất trong 2 loài hạc mà Mỹ Châu có đợc. Chim hạc này cao hơn 1m50, có sải cánh 2m30. Lông tuyền trắng trừ những lông vũ ở cánh có màu đen bóng. Hai gò má và cổ không có lông, có màu đỏ. Ăn rắn rết, ếch nhái, sấu nhỏ... Tiếng kêu như ho gà.
Hạc Xám Tro (Grus grus) ở vùng giáp với Á - Âu, chúng di trú sang Nam Á vào đông.
Hạc Cổ Đen (Grus nigricollis) ở Á Châu.
Hạc Đầu Trắng (Grus monacha) ở Đông Á, Nhật.
Hạc Gia Nã Đại (Grus canadensis) ở Đông Tây Bá Lợi Á, Bắc Mỹ cho đến Mễ Tây Cơ, tại đảo Tùng và Cu ba.
Hạc Mãn Châu (Grus japonensis) ở Đông Á và Nhật.
Hạc Cổ Trắng (Grus vipio) ở Đông Á.
Hạc (Sếu) (Grus antigone) ở vùng Ấn Độ, Mã Lai và Phi Luật Tân.
Hạc Úc Châu (Grus rubicunda), ở Úc Châu.
Hạc Trắng Á Châu (Grus leucogeranus) ở Phi Châu.
Hạc Hoa Miện (Balearica pavonia) ở Phi Châu.
Khi bị sanh cầm thì hạc chịu đựng giỏi, thích ứng ngay và cũng đẻ trứng nuôi con tốt.
Hạc có giọng rền vang, có thể là giọng lớn nhất trong tất cả loài chim. Tiếng hạc trong trẻo nhờ ở thanh quản có hình tựa nh cái còi.
"Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục nh tiếng suối mới sa nửa vời."
(Nguyễn Du)
Chim hạc càng già thì thanh quản càng rộng và càng dài ra. Thanh quản của chim hạc trắng Mỹ Châu dài hơn 1m50 (nếu kéo thẳng ra). Vì vậy tiếng hạc vang rền cả 3 dặm đường dài.
Khi di trú, bay bổng giữa tầng không, luôn luôn có tiếng hạc gọi đàn. Khởi đầu là chim hạc đầu đàn trổi giọng như tiếng kèn gọi lính.
Khi di trú thì đàn hạc bay một mạch, bất kể ngày đêm. Xem đàn hạc bay tưởng chừng như phi cơ tập trận, có đoàn lớn, đội nhỏ, đoàn đội nào cũng có vị chỉ huy. Tùy hướng gió mà bay cao hay thấp và sắp đặt đội hình. Một phi cơ bay quan sát một bầy hạc 80 con, cho biết rằng hạc bay cao khoảng 4000m cách mặt đất, khi vượt biển Manche giữa Anh và Pháp.
Sau khi trú đông ở phương Nam, hạc trở về phương Bắc để làm ổ. Vừa đến nơi thì chim hạc bắt đầu chia thành cặp trống mái liền, kế tiếp là những vũ khúc yêu đương phô diễn.
Chim hạc múa rất đẹp. Thoạt tiên chim trống nghiêng mình chào chim mái rồi từ từ tiến gần, cổ vươn tới trước, cánh xòe nhẹ ra. Đoạn vẫn giữ nguyên thế đó, chim trống bắt đầu nhảy múa trên không, luôn luôn nhảy cao hơn chim mái. Lúc này chim trống hát những tiếng giống như tiếng kèn đồng rộn rã. Kế đó đến phiên chim mái nhảy múa một cách vui tươi tưng bừng như chim trống. Điều này là đặc điểm của chim hạc mái vì ở tất cả các loài chim khác, con mái ít khi hởng ứng cuộc nhảy múa. Chim mái múa uyển chuyển hơn chim trống, thường đập cánh làm tung tóe nước. Sau điệu múa, kể như là mừng tiệc tân hôn, cuộc sống của vợ chồng chim hạc bắt đầu thực sự. Hạc chỉ đẻ 2 trứng và mỗi năm chỉ đẻ một lần. Ổ kết bằng lau sậy trên vùng đầm lầy. Việc kết ổ là nhiệm vụ chung của cả hai chim trống mái.
Ổ hạc bồng bềnh trên nước, không cần che giấu vì hạc rất sốt sắng bảo vệ ổ.
Trống mái cùng ấp trứng. Sau 32 ngày trứng nở.
Ban đêm chim mái tự lo chăm sóc đàn con.
Mới nở, hạc con cỡ bằng 1/100 hạc mẹ, nhưng đã biết đi đứng rồi. Tuy nhiên cha mẹ chúng vẫn lo lắng cho con đến 6 tháng nữa, nhưng hai tuổi thì hạc con mới đủ lông đủ cánh để gọi là trưởng thành. Hai tuổi rồi phải đợi thêm 4 tháng nữa thì hạc mới biết bay.
Chim hạc con
Phi Châu là xứ sở của những loại hạc tuyệt đẹp. Từ thung lũng sông Nil dài đến vùng Mũi Hảo Vọng là quê hơng của loài Hạc Hoa Miện. Hạc này cao cỡ 90 cm, đầu có chùm lông vũ màu đen nh cái mão hoa. Lông vũ óng ánh như tơ. Màu lông trên thân hơi mờ nhưng đôi cánh trắng đẹp tuyệt vời.
Chúng thường lang thang dọc theo các bờ suối để uống nước. Hạc Hoa Miện nhảy múa rất ngoạn mục. Trước kia lông hạc thường là đồ trang sức của phụ nữ.
Khi bay, giống chim hạc thường có đội hình tam giác. Con chim đầu đàn là mũi nhọn của đỉnh tam giác. Lúc bay chỉ huy đã mệt thì chim khác lên thay.
Chim hạc bay từng đàn
Giống chim hạc nhận biết được nhờ ở các đặc điểm sau:
Mỏ dài hơn đầu một ít, rất cứng và bén nhạy, chân rất cao, dáng đi rất có duyên, khi bay thì duỗi chân về phía sau, bắt nhịp bay rất dễ dàng.
Ở vùng Trung Á còn sót lại loại hạc Sarus cao cổ 1m50, đầu và phần trên cổ màu đỏ. Hạc này lai vãng các đồng lúa chín. Chúng sống từng đôi vợ chồng bền vững suốt đời. Dân địa phương cho rằng nếu một con trong cặp mà chết thì con kia cũng chết theo với trái tim bị vỡ ra từng mảnh! Thức ăn của chúng là rắn rít sâu bọ, nhóm gặm nhắm. Chúng thường ngao du qua Ấn Độ. Xứ này thường bắt các chim hạc còn thơ đem về nuôi dưỡng để giữ nhà.
Hai loài hạc mà hiện nay rất hiếm gặp, có thể nói là đã tiệt diệt, là Hạc Thiên Đàng (Pháp: Grue de Paradis) và Hạc Brolga.
Hạc Brolga có lông xám ánh bạc lung linh, cao cỡ 1m25, có sải cánh 2m10. Hạc này ở Úc Châu và Tân Ghi-nê. Chúng không thích làm ổ xa hoa, chỉ đẻ hai trứng ngay trên mặt đất.
Chim hồng hạc mới nở có thể đi theo bố mẹ khi chúng được 2 tuần tuổi.
Cuối cùng còn một loại chim hạc có tên là Cô Numidie (Pháp: Demoiselle de Numidie). Pháp gọi Cô Numidie vì chim hạc này có dáng thớt tha uyển chuyển khi đi đứng. Cô hạc Numidie này thường thăm viếng xứ Đan Mạch, xứ Anh rồi trở về miền nam Y Pha Nho và Lỗ Ma ni để sinh sản.
Như đã nói, chim hạc mà Pháp gọi là Grue leucogérane, một loài hạc đặc hữu của Trung Quốc xa, theo thiển ý, có thể là con hạc vàng mà Thôi Hiệu đã nhắc đến trong bài thơ bất hủ Hoàn Hạc Lâu.
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không di Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản.
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ.
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
tạm dịch:
Người xa cỡi hạc vàng đi mất,
Lầu Hạc Vàng đây bãi đất trơ.
Bay mãi, hạc vàng bao thuở lại,
Trôi hoài, mây trắng ngàn năm chờ.
Hán Dương sông cả rung rừng cội,
Anh Vũ cỏ thơm ngát bến bờ.
Chiều xuống quê nhà man mác ngóng,
Trên sông khói sóng não hồn thơ.
Ngời xa trong bài thơ trên là Phí Văn Vĩ, sau khi đắc đạo thành tiên, cỡi hạc vàng về qua chốn cũ này, ngời sau nhân đấy xây Lầu Hạc Vàng để kỷ niệm.
Sưu tầm - Manroman.com
















